Ngày 1/7/2015, Luật Đầu tư 2014 và Luật Doanh nghiệp 2014 sẽ có hiệu lực thi hành. Hai bộ luật liên quan mật thiết đến doanh nghiệp này có nhiều thay đổi quan trọng theo hướng thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, chặt chẽ hơn về công tác quản lý.

Tại Hội nghị triển khai “Những điểm mới trong Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp” vào ngày 25/6/2015 (Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM (ITPC) phối hợp cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM tổ chức), đại diện các cơ quan chức năng đã thông tin về những điểm quan trọng này.
 
Luật Đầu tư 2014: Cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính
Ông Quách Ngọc Tuấn – Phó vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, thay đổi quan trọng nhất của Luật Đầu tư 2014 là việc tạo lập cơ sở pháp lý minh bạch để bảo đảm thực hiện quyền tự do đầu tư kinh doanh của công dân trong các ngành, nghề mà luật không cấm; thông qua các quy định về ngành, nghề cấm đầu tư và đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Trên cơ sở rà soát, loại bỏ các ngành, nghề cấm đầu tư, kinh doanh trùng lặp theo các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và Luật Thương mại, Luật Đầu tư 2014 quy định 6 ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh bao gồm: kinh doanh các chất ma túy; kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật độc hại; kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã, mẫu vật các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm Nhóm I có nguồn gốc từ tự nhiên; mại dâm; mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người; các hoạt động liên quan đến sinh sản vô tính trên người.

Ông Tuấn cho biết thêm, Luật Đầu tư 2014 đã bãi bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư trong nước (Điều 36), đơn giản hoá hồ sơ, trình tự, thủ tục và rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài với thời hạn tối đa 15 ngày thay cho 45 ngày như trước đây (Điều 37).

Cùng với cải cách thủ tục hành chính, Luật Đầu tư 2014 đã bổ sung, hoàn thiện một số quy định nhằm nâng cao trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc triển khai thực hiện dự án đầu tư.

Một điểm đáng chú ý nữa là việc cải cách quy trình thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài theo hướng bãi bỏ yêu cầu cấp giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để tách bạch hoạt động đầu tư theo dự án với hoạt động đăng ký kinh doanh.

Luật Đầu tư 2014 cũng đã làm rõ chỉ các doanh nghiệp có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 51% hoặc doanh nghiệp có các doanh nghiệp nêu trên nắm giữ trên 51% mới phải áp dụng điều kiện và thủ tục như nhà đầu tư nước ngoài. Luật đã cải cách quy trình góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài theo hướng cho phép nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp thực hiện thủ tục thay đổi thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp mà không phải thực hiện thủ tục đầu tư.

Đối với đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài, Luật Đầu tư 2014 quy định trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc huy động các nguồn vốn (bao gồm cả ngoại tệ), bổ sung một số quy định về thủ tục triển khai hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm giám sát nguồn vốn chuyển ra nước ngoài để đầu tư. Ngoài ra, Luật đã bổ sung hình thức đầu tư ra nước ngoài thông qua mua, bán chứng khoán, các giấy tờ có giá khác và đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài mà không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.

Luật cũng đã hoàn thiện quy trình cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Theo đó, Quốc hội chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án có quy mô trên 20.000 tỷ đồng hoặc cần áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt; Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đối với dự án từ 800 tỷ. Các dự án khác thực hiện theo quy trình đăng ký đầu tư để cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trong thời hạn 15 ngày.

Luật Doanh nghiệp 2014: Tạo cơ chế linh hoạt

Theo đại diện Vụ Pháp chế, Luật Doanh nghiệp 2014 đã thể chế hóa đầy đủ quyền tự do kinh doanh theo Hiến pháp 2013, giảm rủi ro và tăng tính chủ động, nhanh nhạy trong hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp.

Theo Luật Doanh nghiệp 2014, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không bao gồm thông tin về ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, mà chỉ có những thông tin cơ bản như mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính và thông tin về người đại diện theo pháp luật.

Thông tin về ngành nghề kinh doanh dự kiến của doanh nghiệp do doanh nghiệp tự khai và lưu trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Doanh nghiệp chủ động tiến hành hoạt động kinh doanh mới khi có đủ điều kiện và sau đó, thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh để lưu vào hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.

Nhằm tạo thuận lợi tối đa cho quá trình gia nhập thị trường, Luật Doanh nghiệp đã có nhiều cải cách quan trọng, như: bãi bỏ yêu cầu về chứng chỉ hành nghề, xác nhận vốn pháp định trong hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp; rút ngắn thời hạn giải quyết thủ tục đăng ký doanh nghiệp hay thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp xuống tối đa không quá 3 ngày; kết hợp đồng thời các thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký lao động và đăng ký bảo hiểm xã hội; thay đổi phương thức quản lý và bãi bỏ thủ tục về đăng ký mẫu dấu của doanh nghiệp (nội dung, hình thức và số lượng con dấu do doanh nghiệp quyết định trên cơ sở đảm bảo con dấu có hai nội dung tối thiểu là tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp).

Giảm chi phí, tạo cơ chế vận hành linh hoạt, hiệu quả cho quản trị doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp 2014 bổ sung quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn, điều kiện của người đại diện phần vốn nhà nước và người quản lý trong doanh nghiệp nhà nước; bổ sung quy định về yêu cầu công khai hóa thông tin đối với doanh nghiệp có sở hữu vốn nhà nước theo thông lệ quốc tế; sửa đổi khái niệm doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn. Luật cũng xác định rõ tập đoàn kinh tế, tổng công ty không phải là một loại hình doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký thành lập.

Cho phép các công ty linh hoạt hơn trong lựa chọn mô hình tổ chức quản trị, Luật Doanh nghiệp 2014 đồng thời bổ sung quy định tạo thuận lợi hơn cho cổ đông theo dõi, giám sát và khởi kiện người quản lý khi cần thiết nhằm tăng cường mức độ bảo vệ nhà đầu tư.

Các nguyên tắc về quản lý nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp được cụ thể hóa trong Luật Doanh nghiệp theo nguyên tắc nhà nước có trách nhiệm giám sát doanh nghiệp để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, nhưng các bên có liên quan như cổ đông, bạn hàng, khách hàng,... cũng phải tích cực, chủ động tham gia vào giám sát doanh nghiệp vì lợi ích của chính mình. Nhà nước tạo thuận lợi để các bên có liên quan tham gia giám sát doanh nghiệp thông qua việc cung cấp nhanh chóng, kịp thời các thông tin về hoạt động của doanh nghiệp khi các bên có liên quan yêu cầu.

Nguồn  
doanhnhansaigon.vn


 

Điểm Tin Sự Kiện khác